VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ỨNG PHÓ VỚI BĐKH TẠI VIỆT NAM

Các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực môi trường và BĐKH ở Việt Nam có vai trò quan trọng và khả năng đóng góp đáng kể cho sự nghiệp bảo vệ môi trường và BĐKH của quốc gia. Cần tạo điều kiện và không gian hoạt động thuận lợi để phát huy sự đóng góp từ các tổ chức xã hội vì sự phát triển bền vững của quốc gia.

Bien-doi-khi-hau

Việt Nam cùng lúc vừa phải đối phó với suy thoái ô nhiễm môi trường, vừa là một trong những nước chịu nhiều tác động và ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Đây là những thách thức lớn và mới đòi hỏi sự chung tay góp sức của toàn xã hội.

Phổ biến kiến thức, nâng cao nhận thức cộng đồng

Các tổ chức xã hội là hạt nhân tích cực, đóng vai trò quan trọng trong công tác truyền thông, phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH tại Việt Nam, cung cấp dữ liệu và đi tiên phong trong việc thử nghiệm, ứng dụng các sáng kiến giải pháp bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH.

Không chỉ dừng lại ở hoạt động truyền thông, một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thực hiện các hoạt động nghiên cứu chuyên sâu nhằm cung cấp thông tin dữ liệu cũng như giải pháp cho cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan quản lý nhà nước. Nổi bật trong thời gian qua là hoạt động nghiên cứu của một số tổ chức thành viên trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hoạt động trong lĩnh vực liên quan tới tài nguyên nước, năng lượng, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường biển. Theo báo cáo của VUSTA, từ năm 2004 đến nay, VUSTA đã xây dựng được 27 mô hình vệ sinh, bảo vệ môi trường tại cộng đồng, bao gồm các mô hình cấp nước uống sạch cấp hộ, cụm dân cư, trường học, xử lý nước thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi, nước thải làng nghề… Hàng năm các tổ chức thành viên của VUSTA cũng triển khai nhiều mô hình về nước sạch, xử lý nước thải ở các địa bàn trong cả nước. Nhiều giải pháp, sáng kiến thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH của các tổ chức xã hội cũng đã được tổng kết trong tài liệu sáng kiến của nhóm công tác về BĐKH chia sẽ tại COP21 tại Paris. Các sản phẩm nghiên cứu, mô hình khoa học công nghệ và ứng phó với BĐKH của các tổ chức xã hội đã tạo nên một cơ sở dữ liệu mở để công chúng, các đối tác phát triển, các học giả trong và ngoài nước và các nhà hoạch định chính sách có thể dễ dàng tiếp cận và sử dụng tham khảo.

Liên kết, huy động nguồn lực hỗ trợ hoạt động

Kết nối mạng lưới và huy động nguồn lực là một thế mạnh và vai trò không thể phủ nhận của các tổ chức xã hội Việt Nam. Với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, tâm huyết, tình nguyện cam kết cao, có khả năng đáp ứng nhanh, nhiều sáng tạo trong phương thức, cách thức hoạt động, các tổ chức xã hội đã xây dựng được các mạng lưới cộng tác rộng rãi và hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Một số mạng lưới họat động tích cực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và BĐKH có thể kể tên, bao gồm: Mạng lưới các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và BĐKH (VNGO&CC), Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường, Liên minh nước sạch, Liên minh khoáng sản, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam, Mạng lưới VNGOs về thực thi lâm luật, quản trị Rừng và thương mại Lâm Sản… Các liên minh này điều có hoạt động hợp tác quốc tế khá tốt, tạo điều kiện cho việc trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên, tiếp cận tri thức mới từ thế giới và chia sẻ thông tin nhanh từ thành viên và cộng đồng.

Các tổ chức xã hội và các mạng lưới xã hội có khả năng thu hút nguồn tài trợ từ nhiều đối tác trong và ngoài nước tốt, bổ sung thêm nguồn lực hỗ trợ cộng đồng thực hiện các sáng kiến, chủ trương, chính sách và chương trình hành động quốc gia về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH. Hàng triệu đô la đã được huy động hàng năm từ kênh của các tổ chức xã hội để phục vụ cho hoạt động và dự án về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH tại Việt Nam. Đây là những khoản tài trợ không hoàn lại, tuy không lớn nhưng rất đáng quý trong bối cảnh khủng hoảng toàn

cầu về nguồn tài chính trong nước đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH còn eo hẹp.

Ngoài ra, các tổ chức xã hội còn tham gia tích cực vào thảo luận và góp ý xây dựng, điều chỉnh và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH. Vai trò này tuy còn mới nhưng là lĩnh vực mà các tổ chức xã hội có khả năng đóng góp đáng kể và có hiệu quả.

Thực tế, trong thời gian gần đây cho thấy nhu cầu cần thiết có tiếng nói phản biện đa chiều, khách quan, độc lập đại diện cho nhiều bên liên quan, đặc biệt là ý kiến của các nhà khoa học trong quá trình ra quyết định. Các tổ chức xã hội có thể là nơi quy tụ nhiều nhà khoa học giỏi đóng vai trò là cầu nối giữa cộng đồng với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý. Họ cũng chính là nơi cung cấp tri thức, các cơ sở khoa học kèm theo những minh chứng thực tiễn để làm cơ sở cho việc ra quyết định. Các góp ý, phân tích của các tổ chức xã hội liên quan tới vấn đề thủy điện Mê Kông, thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, quy hoạch điện, việc lấn sông Đồng Nai gần đây đã minh chứng rõ vai trò tư vấn, phản biện khách quan và độc lập của các tổ chức xã hội. Đây cũng là vai trò và đóng góp mà các tổ chức xã hội có thể thực hiện tốt hơn trong thời gian tới nếu được tạo các khuôn khổ pháp lý và không gian tham gia trực tiếp và thuận lợi trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách.

Ngụy Thị Khanh  

(Chuyên đề PBKT số 1 tháng 8/2016)



Vusta

 Vifotec

HThi STKThuat 2016

Logo Cuoc thi 2017

Logo-bao-ve-nguoi-tieu-dung

Hội Bảo vệ Quyền lợi Người Tiêu dùng tỉnh Sóc Trăng